Không khí thành phố Sài Gòn trong ngày chiến thắng 30-4-1975 (Ảnh Tư liệu)Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, ký ức tháng Tư lịch sử vẫn luôn hiện hữu trong những người từng đi qua chiến tranh, nhắc nhớ về giá trị của hòa bình và khát vọng vươn lên của một thành phố anh hùng.
Nhớ ngày giải phóng
Tháng Tư, ông Hoàng Cao Đại thường trở lại Dinh Độc Lập (nay là Hội trường Thống Nhất), lặng đứng trước tòa nhà, đôi mắt đỏ hoe. Mỗi khi ông đến, những hình ảnh của buổi trưa 30-4-1975 lại hiện về trước mắt. Ông Đại là một trong những người được giao nhiệm vụ tiếp quản, đóng chốt, canh giữ Dinh Độc Lập những ngày đầu giải phóng.
Năm 1968, khi đang là sinh viên kiến trúc tại quê nhà Nam Định, ông tình nguyện nhập ngũ. Những năm đời lính của ông là thời gian đơn vị gần như liên tục bám chiến trường với những trận đánh ác liệt. Đơn vị Đại đội 7, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 141, Sư đoàn 7, Quân đoàn 4 (nay là Quân đoàn 34) thường nhận nhiệm vụ khó, đánh vào những mục tiêu quan trọng.
Ông nhớ lại sáng 30-4, Tư lệnh Quân đoàn 4 Hoàng Cầm trao lá cờ “Quyết chiến, quyết thắng” cho Sư đoàn 7 với nhiệm vụ tiến về Dinh Độc Lập. Từ khu vực Hố Nai vừa được giải phóng, Đại đội 7 gồm 4 xe tăng tiến về Sài Gòn, ông Đại là chính trị viên đại đội đi trên xe đầu đội hình, xe của Đại đội trưởng Phạm Văn Thiệu khóa đuôi. Trên đường vào dinh, đơn vị phải vượt qua nhiều điểm chống trả và cảnh tượng hỗn loạn. Nhiều chiến sĩ đã hy sinh ngay trong những giờ phút cuối cùng, khi hòa bình cách rất gần.
Khi đơn vị ông tới nơi, lực lượng Quân đoàn 2 đã tiến vào Dinh Độc Lập, buộc Tổng thống Dương Văn Minh và nội các chính quyền Sài Gòn đầu hàng chưa đầy 1 giờ trước đó. Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị ôm chầm lấy nhau trong niềm vui đại thắng. Chiều cùng ngày, ông Đại được giao làm sĩ quan liên lạc giữa lãnh đạo Quân đoàn 4 với các thành viên nội các chính quyền Sài Gòn cũ còn ở lại trong dinh.
Ông kể, đêm đầu tiên sau giải phóng, cả đại đội không ai dám ngủ, bởi nhiệm vụ vừa canh giữ, vừa bảo đảm an toàn tuyệt đối cho những người đã đầu hàng và gia đình họ. Ông Đại cho chúng tôi xem bức ảnh cũ của Đại đội 7. Nhìn lại những gương mặt từng vào sinh ra tử, ông bật khóc, khóc vì hòa bình, vì nhớ mãi hình ảnh người đồng đội leo lên cắm cờ chiến thắng rồi hy sinh ngay trước mắt…
Thanh âm đi qua ...
Trong căn phòng đầy bản thảo, nhạc sĩ Trần Xuân Tiến lật giở những ký ức của hơn 50 năm về trước: “Bao ước mơ tự nguyện làm cánh chim bồ câu trắng bay từ Nam ra Bắc đã thỏa được niềm mơ ước, non sông thống nhất, đất nước thanh bình. Thế là chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ thời trẻ với quê hương”.
Cách đây một năm, nhạc sĩ Trần Xuân Tiến ra mắt ca khúc “Ánh sao trong mắt mẹ” nhân dịp 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trước khi viết nên những bản hùng ca, tuổi thơ ông gắn với những giai điệu trong trẻo, đậm chất quê nhà. Thế rồi, khi lửa đạn chiến tranh tràn ngập, những giai điệu vui buồn về quê hương dẫu vẫn vang lên, nhưng trong lòng chàng thanh niên đã nhen nhóm một nỗi trăn trở lớn hơn.
Năm 1968, ông bước vào giảng đường Đại học Văn khoa Sài Gòn. Giữa lòng đô thị phồn hoa, chàng sinh viên được tiếp cận với vô vàn luồng tư tưởng mới. Bước ngoặt lớn đến vào năm 1970, khi ông gặp gỡ những người đồng chí hướng: nhạc sĩ Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn…
Đây vừa là cuộc hội ngộ của những người bạn nghề, vừa là sự giao thoa của lý tưởng đấu tranh giành độc lập tự do. Ông đã bước vào dòng chảy của phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe”, trở thành thành viên nòng cốt trong “Hội sinh viên sáng tác” thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn.
Ký ức về năm tháng ấy là những lần đứng hát mà phía dưới là hàng chục họng súng chĩa thẳng lên sân khấu. Khi những người anh lớn vì nhiệm vụ phải lần lượt rời Sài Gòn, Trần Xuân Tiến cùng đồng đội ở lại gánh gồng phong trào, giữ ngọn lửa đấu tranh cho đến ngày đại thắng 30-4-1975.
Sau giải phóng, âm nhạc của Trần Xuân Tiến chuyển mình từ âm hưởng đấu tranh sang sứ mệnh kiến thiết. Ông sáng tác nhiều ca khúc về thành phố mang tên Bác, về những khát vọng mới. Trong đó, ca khúc “Thành phố Hồ Chí Minh niềm tin ngời sáng”, viết cùng con gái Mai Trâm, đã trở thành nhạc phẩm quen thuộc trong các dịp lễ lớn.
Nhạc sĩ Trần Xuân Tiến nói về TPHCM bằng tình cảm sâu nặng. Với ông, nơi đây không chỉ nuôi dưỡng cảm xúc âm nhạc, mà còn mở ra con đường đúng đắn của cuộc đời. Từ một người trẻ vào đô thị lớn học tập, ông đã trưởng thành trong chính không gian đấu tranh, sáng tạo và cống hiến của thành phố này.
Truyền lửa cho thế hệ hôm nay
Ngày 29-4, tại lễ chào cờ và phát động hành trình "Tôi yêu Tổ quốc tôi" ở Hội trường Thống Nhất do Hội Liên Hiệp Thanh niên Việt Nam TPHCM tổ chức, bà Trương Mỹ Lệ (bí danh Tư Liêm) kể lại khí thế quật cường của sinh viên, thanh niên và nhân dân Sài Gòn - Gia Định trong ngày 30-4-1975.
Sáng 30-4, bà Tư Liêm lúc đó là quyền Bí thư Thành đoàn, truyền lệnh cho các cơ sở Thành đoàn trong nội thành phát động khởi nghĩa. Cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu được treo trước nhà số 115 Bàn Cờ; sinh viên, thanh niên mang băng rôn, biểu ngữ xuống đường. Sau khi chính quyền Sài Gòn tuyên bố đầu hàng, lực lượng thanh niên tự vệ tạm thời tiếp quản một số vị trí, thu gom vũ khí, vận động người dân ổn định đời sống trước khi bàn giao cho lực lượng quân quản.
Bà Tư Liêm nhắn nhủ đến thế hệ trẻ tiếp nối thành quả cách mạng của các thế hệ đi trước bằng việc nỗ lực học tập, trau dồi kiến thức, đem trình độ và sức trẻ phục vụ đất nước trong thời bình.