Quyết định lịch sử ấy không chỉ ghi dấu thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước mà còn thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của toàn Đảng, toàn dân đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nửa thế kỷ qua, thành phố mang tên Bác đã không ngừng vươn lên, khẳng định vai trò đầu tàu kinh tế, trung tâm đổi mới sáng tạo và hội nhập của cả nước.
Từ góc nhìn của các nhà sử học, hành trình ấy là sự tiếp nối những giá trị lịch sử, hiện thực hóa khát vọng thống nhất và phát triển trong thời kỳ mới.
Dấu mốc lịch sử của thành phố mang tên Bác
Theo Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học Vũ Minh Giang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, trong lịch sử hiện đại Việt Nam, hiếm có mối gắn bó nào vừa mang ý nghĩa cá nhân, vừa mang ý nghĩa lịch sử và dân tộc sâu sắc như tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với miền Nam nói chung và vùng đất Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định nói riêng.
Dù không có nhiều thời gian sống và hoạt động tại đây, Sài Gòn lại là nơi mở đầu cho hành trình tìm đường cứu nước của người thanh niên Nguyễn Tất Thành, đồng thời cũng là vùng đất Người luôn dành sự quan tâm đặc biệt trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng.
Sự kiện ngày 5/6/1911 tại Bến Nhà Rồng trở thành dấu mốc đặc biệt trong lịch sử dân tộc khi Nguyễn Tất Thành xuống tàu Amiral Latouche-Tréville ra đi tìm đường cứu nước.
Từ điểm khởi đầu ấy, hành trình gần ba thập kỷ bôn ba khắp năm châu đã dẫn đến việc tìm ra con đường giải phóng dân tộc, mở đường cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Bởi vậy, Sài Gòn luôn giữ vị trí đặc biệt trong ký ức và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dõi theo từng diễn biến của cuộc kháng chiến.
Người nhiều lần gửi thư, điện động viên quân và dân Nam Bộ, khẳng định cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam không chỉ là sự nghiệp của riêng miền Nam mà là sự nghiệp chung của cả dân tộc.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước bị chia cắt càng khiến nỗi đau đáu của Người đối với đồng bào miền Nam thêm sâu nặng.
Giáo sư Vũ Minh Giang cho rằng câu nói “Miền Nam luôn ở trong trái tim tôi” không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng mà còn phản ánh chân thực tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với đồng bào miền Nam.
Trong nhiều bài phát biểu, thư chúc Tết và thư gửi cán bộ, chiến sĩ, đồng bào miền Nam, Người luôn bày tỏ niềm tin son sắt vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp giải phóng dân tộc; đồng thời ca ngợi tinh thần chiến đấu kiên cường, ý chí quật cường của quân và dân Sài Gòn-Gia Định, coi đó là biểu tượng của lòng yêu nước và khát vọng độc lập, thống nhất đất nước.
Không chỉ dành tình cảm về mặt tinh thần, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thường xuyên theo dõi tình hình chiến trường miền Nam. Mỗi chiến công của quân và dân Sài Gòn-Gia Định đều mang lại niềm vui và sự xúc động; mỗi mất mát, hy sinh của đồng bào đều khiến Người trăn trở.
Theo Giáo sư Vũ Minh Giang, nhiều cán bộ từng làm việc gần Bác kể lại rằng Người thường xuyên hỏi thăm tình hình miền Nam, đọc kỹ các báo cáo từ chiến trường và đặc biệt quan tâm đến đời sống của đồng bào vùng chiến sự. Điều đó cho thấy tình cảm của Người không chỉ thể hiện qua những lời động viên mà còn bằng sự quan tâm cụ thể, thường xuyên và chân thành.
Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục bày tỏ niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng thời khẳng định dù phải trải qua nhiều gian khổ, nhân dân Việt Nam nhất định sẽ giành thắng lợi hoàn toàn, đất nước sẽ thống nhất.
Một trong những mong muốn lớn nhất của Người sau ngày kháng chiến thắng lợi là được vào thăm đồng bào miền Nam. Đó là tâm nguyện nhiều lần được nhắc đến trong những năm cuối đời nhưng chưa kịp thực hiện.
Theo Giáo sư Vũ Minh Giang, Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã hiện thực hóa khát vọng thống nhất đất nước mà Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đuổi suốt cuộc đời.
Một năm sau, tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI, quyết định đổi tên thành phố Sài Gòn-Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh được thông qua. Đây là quyết định có ý nghĩa lịch sử, chính trị và văn hóa đặc biệt sâu sắc.
Không chỉ đơn thuần là việc đặt tên cho đô thị lớn nhất cả nước, quyết định ấy còn khẳng định thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân Việt Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ đã cống hiến trọn đời cho độc lập, tự do của dân tộc.
Việc thành phố Sài Gòn-Gia Định mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là sự kết tinh thành quả của ba thập kỷ đấu tranh vì độc lập và thống nhất Tổ quốc.
Nếu Sài Gòn là nơi Người ra đi tìm đường cứu nước năm 1911 thì cũng chính vùng đất ấy, sau ngày non sông thu về một mối, đã vinh dự mang tên Người.
Sự kết nối giữa điểm khởi đầu của hành trình giải phóng dân tộc và nơi ghi dấu thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp thống nhất đã tạo nên ý nghĩa lịch sử đặc biệt, trở thành biểu tượng của hòa bình, đại đoàn kết dân tộc và khát vọng phát triển của Việt Nam trong thời kỳ mới.
Bến Nhà Rồng (Sài Gòn) đầu thế kỷ XX. Từ nơi này, ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc trên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville để thực hiện hoài bão giải phóng nước nhà khỏi ách nô lệ của thực dân, đế quốc. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)Từ biểu tượng lịch sử đến động lực phát triển
Tiến sỹ Nguyễn Thị Thu Hạnh, Bí thư Đoàn Viện Sử học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) cho rằng, nhìn lại chặng đường 50 năm kể từ khi chính thức mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, thành phố đã có bước phát triển mạnh mẽ, khẳng định vai trò và vị thế đặc biệt trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước.
Từ một đô thị chịu nhiều hậu quả của chiến tranh, Thành phố Hồ Chí Minh từng bước vươn lên trở thành trung tâm kinh tế năng động, giữ vai trò đầu tàu trong nhiều lĩnh vực, đồng thời là trung tâm lớn về thương mại, dịch vụ, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Theo Tiến sỹ Nguyễn Thị Thu Hạnh, suốt nửa thế kỷ qua, thành phố luôn là động lực tăng trưởng quan trọng của cả nước, đóng góp tỷ trọng lớn vào GDP và ngân sách nhà nước, đồng thời là nơi tập trung số lượng lớn doanh nghiệp đang hoạt động.
Nhiều mô hình phát triển mới được hình thành và phát huy hiệu quả, từ Khu chế xuất Tân Thuận - khu chế xuất đầu tiên của cả nước, đến Công viên phần mềm Quang Trung và Khu Công nghệ cao, góp phần tạo dựng nền tảng cho kinh tế tri thức và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập.
Không chỉ giữ vai trò trung tâm kinh tế, Thành phố Hồ Chí Minh còn là đầu mối lớn về văn hóa, giáo dục, khoa học và giao lưu quốc tế.
Sự phát triển của thành phố không chỉ thể hiện ở các chỉ số tăng trưởng mà còn ở khả năng lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và đóng góp tích cực vào quá trình hiện đại hóa đất nước.
Một trong những dấu ấn nổi bật của Thành phố Hồ Chí Minh là vai trò tiên phong trong đổi mới. Những mô hình sản xuất, kinh doanh được hình thành từ cuối thập niên 1970 và những năm 1980 đã trở thành thực tiễn quan trọng, góp phần cung cấp cơ sở để Trung ương tổng kết và hình thành đường lối Đổi mới tại Đại hội VI của Đảng năm 1986.
Tinh thần năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm từ giai đoạn đó tiếp tục được kế thừa trong quá trình phát triển của thành phố. Bản sắc và sức sống của Thành phố Hồ Chí Minh được hình thành từ truyền thống yêu nước, tinh thần năng động, sáng tạo, ý chí vượt khó, khả năng thích ứng và tinh thần đoàn kết của các tầng lớp nhân dân.
Những giá trị ấy được hun đúc qua chiều dài lịch sử, đặc biệt trong quá trình đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời tiếp tục được phát huy trong thời kỳ đổi mới thông qua việc đổi mới tư duy, mở rộng hợp tác quốc tế, phát triển khoa học - công nghệ và khẳng định vai trò là một trung tâm lớn của cả nước.
Bước vào giai đoạn phát triển mới, Tiến sỹ Nguyễn Thị Thu Hạnh cho rằng, Thành phố Hồ Chí Minh cần tiếp tục phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm; truyền thống đoàn kết, nghĩa tình và khả năng thích ứng trước những biến đổi của thời đại.
Lịch sử phát triển của thành phố cho thấy, chính việc phát huy nội lực, khơi dậy sức sáng tạo của nhân dân và tận dụng hiệu quả các cơ hội hội nhập đã tạo nên những bước phát triển mạnh mẽ.
Trong thời gian tới, những giá trị đó cần tiếp tục được chuyển hóa thành động lực cho đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Là thành phố mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần kiên định quan điểm lấy con người làm trung tâm của quá trình phát triển; kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bền vững.
Sự kết hợp giữa truyền thống lịch sử, bản lĩnh đổi mới và khát vọng vươn lên sẽ tiếp tục là nền tảng để Thành phố Hồ Chí Minh giữ vững vai trò đầu tàu, đóng góp ngày càng quan trọng vào sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.